 tối như thể nó chẳng biết gì đến xung quanh, đến những người đang tìm cách giết chết nó. Khi mọi người hò hét và những con chó săn sủa inh ỏi, con lợn rừng bị đánh thức bèn nhảy lên, lông trên lưng dựng đứng, đôi mắt ánh lên những đốm lửa giận dữ. Ulysses là người đầu tiên giơ giáo lao vào con lợn khổng lồ nhưng nó quá nhanh nhẹn nên chàng đã đâm trượt. Nó chạy sang một bên né nhát đâm của Ulysses và đâm thẳng chiếc sừng sắc nhọn của mình vào đùi của chàng trai trẻ. Tuy nhiên, Ulysses chỉ bị thương phần mềm và nhanh chóng chàng giơ giáo đâm thẳng vào vai của con thú khiến nó lảo đảo vì đau đớn rồi lăn ra chết. Mấy chú của Ulysses băng bó vết thương của chàng hết sức cẩn thận và hát một bài hát thần tiên với hi vọng chàng trai trẻ sẽ không cảm thấy quá đau đớn và vết thương của chàng sẽ nhanh lành. Đó là bài hát về những người lính nước Pháp muốn làm một vài việc gì đó cho nàng Joan của thành Arch khi một mũi tên nhọn đâm vào vai nàng tại Orleans. Sau đó máu ngừng chảy và vết thương của Ulysses phục hồi nhanh chóng. Thật là một phép thần kỳ và ngay chính bản thân Ulysses cũng không ngờ mình lại hết đau nhanh đến thế. Mọi người nghĩ rằng chàng trai trẻ sẽ trở thành một chiến binh dũng cảm, họ tặng cho chàng những món quà đặc biệt. Khi về tới nhà, chàng kể lại toàn bộ sự việc cho cha, mẹ và vú nuôi Eurycleia của mình. Mặc dù vết thương đã khỏi nhưng nó để lại một vết sẹo trắng dài trên đầu gối trái của chàng. Nhiều năm về sau chúng ta vẫn còn nghe thấy những câu chuyện thú vị về vết sẹo và cũng chính vệt sẹo này giúp cho những người thân của chàng nhận ra được thân phận thực sự của Ulysses. 

Tất cả những gì mới được kể ra ở đây chỉ là sự khởi đầu và sau đây là rất nhiều câu chuyện thú vị khác đang đợi chúng ta ở phía trước.  Cuộc sống thời Ulysses  Khi Ulysses còn là một chàng trai trẻ, chàng mong ước sẽ cưới một nàng công chúa xinh đẹp, có địa vị ngang bằng với mình. Trong thời gian đó có rất nhiều đức vua cai trị một vùng lãnh thổ nhỏ trên đất nước Hi Lạp và các bạn nên biết thêm một số thông tin về cuộc sống của họ vào thời bấy giờ. Mỗi ông vua cai trị một lãnh thổ riêng của mình, mỗi vương quốc có một thị trấn trung tâm là nơi đức vua, hoàng hậu và gia đình của họ sinh sống. Đặc biệt mỗi thị trấn chính có những bức tường đá lớn bao xung quanh giống như một bức bình phong che chắn. Có rất nhiều bức tường đá vẫn còn tồn tại cho đện tận ngày nay nhưng cỏ dại và những bụi cây nhỏ mọc đầy trên những đống đổ nát. Nhiều năm về sau mọi người cho rằng những bức tường đá cao đáng kinh ngạc chắc chắn phải do những người khổng lồ xây dựng bởi những tảng đá tạo nên chúng rất lớn, lớn hơn rất nhiều so với kích thước một con người bình thường. 

Mỗi ông vua có những quý tộc và những người thân cận ở dưới quyền ông, những thần dân đều có toàn bộ lâu đài của họ. Mỗi lâu đài có sân rộng với hành lang dài, trong sân cung điện mọi người thường đốt lửa mỗi khi có sương mù tạo nên một khung cảnh huyền ảo. Khói lửa hoà quyện với sương mù tạo thành một bức bình phong mỏng bao phủ lấy cảnh vật khiến cho chúng mang đậm màu sắc cổ tích huyền thoại. 

Vua và hoàng hậu ngồi trên ngai vàng của mình giữa bốn cột lớn được chạm khắc cầu kỳ vừa để trang trí, vừa dùng để chống đỡ mái nhà. Ngai vàng được làm từ gỗ cây tuyết tùng và ngà voi, cột được dát vàng, có rất nhiều ghế và bàn nhỏ dành cho khách. Tường và cửa ra vào cũng được mạ đồng, vàng, bạc và những mảnh thuỷ tinh màu xanh. Cũng có trường hợp tường được bao phủ bởi những bức tranh của đám thợ săn đang săn bò và cho đến tận ngày nay chúng ta vẫn có thể nhìn thấy một vài bức tranh tại những lâu đài cổ đó. Vào ban đêm, mọi người đốt đuốc và đặt vào trong tay của những bức tượng cậu bé bằng vàng nhưng khói phát ra từ lửa và từ những bó đuốc bốc lên trên không trung qua những lỗ thông gió trên mái nhà khiến cho chúng bị đen xạm. Điều đó là không thể tránh khỏi đối với việc sử dụng lửa và đuốc làm phương tiện thắp sáng, trên tường có treo những thanh kiếm, giáo mũ và lá chắn. Tuy nhiên, các ông vua cũng cử ra một vài người chuyên trách việc lau chùi những đồ vật này bởi tàn khói thường xuyên bám lên chúng, khiến chúng bị bẩn. 

Bên cạnh Đức vua và Hoàng hậu luôn có một người hát rong hoặc một nhà thơ, sau khi dùng bữa tối xong họ sẽ cất lên những bài hát hoặc kể những câu chuyện về chiến tranh. Vào thời đó, đây chính là một hình thức giải trí của vua, hoàng hậu và những người thuộc dòng dõi hoàng tộc. 

Vào ban đêm, Đức vua và Hoàng hậu ngủ trong lâu đài riêng của mình, phụ nữ có phòng riêng, các công chúa ngủ trong phòng trên tầng và các hoàng tử nhỏ có phòng riêng được xây dựng tách ra trong sân. Đối với chúng ta thời nay thì đây là những điều hoàn toàn lạ lẫm bởi cuộc sống của chúng ta khác hẳn, hiện đại hơn, tấp nập hơn so với mọi người thời bấy giờ. Tuy nhiên, qua sách vở và qua phần giới thiệu này, các bạn có thể hiểu thêm một vài thông tin về cuộc sống thời xa xưa nơi ánh sáng văn minh chưa chiếu tới. Vào thời bấy giờ, những bậc vương giả, những người giàu có thường trang trí nhà của mình bằng những hình vẽ đẹp, những đồ trang trí liên quan nhiều đến chiến tranh, săn bắt vì đây là những hiện tượng phổ biến, chiếm phần lớn thời gian của mỗi quốc gia. Ngoài ra, đó cũng là đấu hiệu giúp chúng ta phân biệt những người giàu có với những người bình thường. 

Trong những lâu đài của Đức vua và Hoàng hậu có nhiều phòng tắm với bồn tắm bóng loáng dành cho khách. Sau mỗi chuyến đi dài, khách đến thăm có thể tắm rửa, tẩy sạch bụi trần và tận hưởng sự sảng khoái, thư giãn cùng với nước. Có một điều đặc biệt ở đây là nếu khách đến chơi qua đêm thì họ sẽ ngủ trên những chiếc giường kê ở bên dưới mái cổng hay nói cụ thể hơn là mái tạo thành cửa vào của lâu đài bởi khí hậu rất ấm và khô ráo. 

Có rất nhiều người phục vụ trong mỗi lâu đài và phần lớn trong số họ là tù binh bắt được trong chiến tranh. Tuy nhiên, họ được đối xử tử tế không giống như những nô lệ vào thời chiếm hữu nô lệ và ngược lại họ cũng rất thân thiện và trung thành với ông chủ. Các ông chủ không ngược đãi nô lệ của mình nên vào thời bấy giờ không có hiện tượng nô lệ vùng lên đấu tranh đòi quyền tự do. Thêm vào đó, thời này người ta không dùng tiền làm phương tiện trung gian để trao đổi hàng hoá, mọi người dùng đồ vật để trả cho đồ vật hoặc dùng vàng để trả cho chủ sở hữu của một món đồ nào đó nếu bạn muốn có chúng. Người giàu có sở hữu rất nhiều cốc vàng, kiếm mạ vàng hay vòng cổ, vòng tay bằng vàng. 

Đức vua chính là vị chỉ huy tối cao trong chiến tranh và là người đàm phán khi hoà bình được lập. Họ là những người sùng bái thần thánh, chính vì vậy phong tục cúng tế thần linh xuất hiện từ rất lâu đời. Thường thì họ dùng gia súc, gia cầm cúng thần linh sau đó làm thịt ăn, coi đây là những món ăn đã được thần linh phù hộ. Trước mỗi một sự kiện dù nhỏ, họ cũng cầu khấn thần linh, xin sự ủng hộ của các thần và đây là một đặc điểm tôn giáo mang đậm màu sắc đặc trưng. 

Mọi người ăn mặc rất đơn giản chứ không cầu kì như ngày nay. Thường thì trang phục của họ chỉ là những chiếc áo, váy dài làm bằng len hoặc lụa trải dài xuống kín chân, có thắt lưng ở quanh eo. Mặc quần áo ngắn hơn hay dài hơn là tuỳ theo sở thích và lựa chọn của mỗi người. Trong trường hợp, mọi người muốn mặc trang phục kín cổ, họ dùng trâm để cài, đó là những chiếc trâm rất đẹp và có ghim đính. Trang phục này giống như những chiếc áo choàng len mà những người sống ở vùng cao nguyên và vùng núi thường mặc: những chiếc áo choàng dài có thắt lưng và trâm cài. Khi thời tiết trở lạnh, người Hi Lạp mặc những chiếc áo choàng làm từ vải len nhưng họ lại không sử dụng chúng trong chiến tranh. Khi tham gia vào chiến trận, mọi người thường thắt chặt giáp ngực của mình và có áo giáp che chắn những phần dưới của cơ thể, phần áo giáp phía chân được gọi là phần giáp che ống chân, trong khi đó những chiếc lá chắn lớn giúp chiến binh che chắn toàn bộ cơ thể từ cổ đến mắt cá có dây treo chắc chắn đeo quanh cổ. Kiếm được treo ở một dây thắt lưng khác, buộc chéo với dây treo lá chắn. Khi hoà bình, mọi người đi những đôi giày sáng nhưng trong chiến tranh họ đi ủng cao và nặng hơn. 

Phụ nữ cũng mặc áo dài nhưng với nhiều trâm cài và đồ trang sức hơn trang phục của nam giới. Ngoài ra, họ cũng đội mũ, khăn và áo choàng không tay. Họ đeo vòng cổ bằng vàng, đá quý, khuyên tai và vòng tay bằng vàng hay bằng đồng. Màu sắc của trang phục rất đa dạng và tuỳ theo thẩm mỹ và lựa chọn của từng người, tuy nhiên màu chủ đạo là màu trắng và màu tía. Trong đám tang, họ mặc quần áo màu xanh đậm chứ không phải màu đen như chúng ta ngày nay. 

Áo giáp, lưỡi kiếm và mũi giáo không được làm từ thép hay sắt mà làm từ hỗn hợp đồng: hợp chất của đồng và kẽm. Lá chắn được làm với kích thước dày với vài chiếc lông vũ có mạ đồng ở phía trên; những công cụ khác như rìu, cày cũng được làm từ sắt hoặc đồng. Dao và cuốc xẻng cũng vậy. Qua đây chúng ta có thể thấy rằng đồng là kim loại được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong các vương quốc bởi kim loại này rất phong phú và dễ sử dụng. 

Hai từ thời trang không phổ biến trong các vương quốc bởi quan niệm thẩm mỹ của họ rất đơn giản. Thứ trang trí duy nhất của phụ nữ là trâm, vòng cổ, vòng tay, khuyên tai và những người giàu có thì có những đồ trang trí bằng vàng, những người nghèo hơn chỉ có đồ làm bằng đồng. Phụ nữ cũng không có nhiều cơ hội và thời gian làm đẹp như phụ nữ thời hiện đại. Mọi thứ đều diễn ra rất đơn giản và cuộc sống của họ vào thời bình cũng chẳng hề có nhiều biến động. 

Với chúng ta, nhà cửa và cách sống có ý nghĩa hết sức quan trọng nhưng ở một vài khía cạnh nào đó thì cũng rất khó khăn. Trong thời buổi bây giờ, để có thể sống sót và phát triển theo đúng nghĩa của nó, chúng ta phải đấu tranh và cuộc đấu tranh này không kém phần khốc liệt so với những cuộc chiến tranh tranh giành quyền lực, đất đai thời xưa. Còn vào thời Ulysses, nếu là những bậc vương giả thì họ rất chú ý đến lâu đài và nhà ở của mình, chính vì vậy cho đến tận ngày nay chúng ta vẫn còn thấy dấu ấn của nhiều lâu đài tráng lệ, có kiểu cách xây dựng và trang tr